TÂY NGUYÊN ĐẠI NGÀN

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN – DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN LOẠI

            Khi nhắc đến những nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam thì chắc chắn mọi người sẽ ngay lập tức nghĩ đến các di sản phi vật thể nổi tiếng được UNESCO công nhận trên thế giới như Nhã nhạc Cung Đình Huế, Dân Ca quan họ, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Hát ca trù. Nhưng trên tất cả, có một di sản văn hóa của Việt Nam được tôn vinh trên thế giới và cũng là niềm tự hào của người dân nước Việt.

            Đó chính là Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, một trong bảy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam biểu tượng cho bản sắc dân tộc Việt tuyệt vời và đặc sắc. Đến với Tây Nguyên, ai cũng muốn được thưởng thức những âm thanh trầm bổng, vang vọng của cồng chiêng giữa núi rừng đại ngàn. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt bởi sự đa dạng độc đáo của kỹ thuật diễn tấu, mà còn là tiếng nói tâm linh, là biểu tượng cho cuộc sống của con người nơi đây.

          Trải qua 15 năm bảo tồn và phát triển, kể từ sau khi được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngày 25/11/2005, Không gian Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã trở thành một điểm nhấn về văn hóa, du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của vùng đất cao nguyên.

1. Sử thi văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên:

Tây Nguyên được biết đến là xứ sở của những sử thi đậm chất huyền thoại, vùng đất của đại ngàn xanh thẳm, không gian văn hóa cồng chiêng đậm đà bản sắc. Không gian văn hóa cồng chiêng trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên, như Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai, M’nông, Cơ Ho,…

Cồng chiêng Tây Nguyên có tiếng anh là “gong”. Về nguồn gốc của cồng chiên có thể là “hậu duệ” của đàn đá trước khi có sự xuất hiện của đồng thì người xưa đã chế tác ra các nhạc cụ bằng đá, tre như đàn đá, cồng đá, chiên đá, tre…

Đến thời kì đồ đồng thì các nhạc cụ cồng chiêng đồng cũng theo đó mà ra đời. Từ thuở sơ khai tiếng cồng chiên được xuất hiện trong tất cả các lễ hội trong năm từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, xuống đồng, mừng lúa mới, hay trong một số buổi nghe khan tiếng chiên dài hơn đời người, âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người như là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên hay kết nối các thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, cồng chiêng là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu của con người với thế giới siêu nhiên. Đằng sau mỗi chiếc Cồng chiêng điều ẩn chứa một vị thần chiếc Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực vị thần đó càng cao. Cồng chiêng Tây Nguyên được coi là biểu hiện cho tài sản, quyền lực, sự an toàn trong mỗi gia đình và cộng đồng.

Cồng, chiêng được làm từ hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20 đến 50 – 60 cm, loại cực đại tới 90 – 120 cm. Cồng chiêng có thế được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi tới 18 – 20 chiếc. Trong một bộ chiêng, chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất. Cồng chiêng có thể được gõ bằng dùi hoặc đấm bằng tay. Có dân tộc còn áp dụng kỹ thuật chăn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc chiêng…

Đã có thời một chiếc chiêng có giá trị ngang bằng 2 con voi hay 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo.

Cồng chiêng Tây Nguyên đã góp phần tạo nên những sử thi đi vào những áng thơ ca đậm chất tây nguyên vừa lãng mạng vừa hùng tráng khẳng định giá trị tồn tại trên mãnh đất Tây Nguyên từ hàng ngàn đời nay.

Sau Nhã nhạc cung đình Huế, vào ngày 25 -11- 2005 Cồng chiêng tây nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể nhân loại. Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.

2. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

Trải qua năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên. Những âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và tiếng lòng, đã sống mãi cùng đất trời và con người Tây Nguyên. Âm thanh của cồng chiêng như xoa dịu nỗi buồn, sự đớn đau, nỗi cô đơn trống vắng hay tủi hờn trong bất hạnh. Người giàu sang, kẻ nghèo hèn, già trẻ, gái trai như bị thôi miên, khao khát về cội nguồn, gắn kết trong vũ điệu cồng chiêng say lòng người.

Âm thanh cồng chiêng là sợi dây kết nối với cộng đồng một cách rất linh thiêng và thế tục, tâm niệm và cộng cam. Cồng chiêng đã trở thành biểu tượng không thể thiếu trong cuộc sống của dân tộc Tây Nguyên. Tiếng cồng chiêng không chỉ gợi lên những âm thanh huyền ảo mà nó còn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong lòng mỗi con người và tạo nên một sự đoàn kết mạnh mẽ của cả dân tộc.

Tiếng cồng chiêng gợi tả sự thổn thức trong lễ cầu sức khỏe, da diết ước mong trong ngày lễ phát rẫy trìa lúa và sự phấn khởi, mừng vui trong ngày lễ mùng thần lúa. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một trong những di sản cần được bảo tồn và phát huy giá trị.

3. Những ngày hội cồng chiêng Tây Nguyên:

Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ một món ăn tinh thần của người dân Tây Nguyên mà nó còn chứa đựng những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Nhờ sự tài hoa và khéo léo của người dân nơi nay đã biến một sản phẩm hàng hóa vốn không được đề cao trở thành một loại nhạc cụ tuyệt vời.

Âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày. Lúc đứa trẻ lớn lên, mỗi giai đoạn của đời sống hằng ngày. Lúc đứa trẻ mới chào đời, tiếng cồng vang lên chào đón thành viên mới. Khi đứa trẻ lớn lên, mỗi giai đoạn của đời sống, từ việc ruộng đồng cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, khi đón khách, lên nhà mới hay tang lễ… đều không thể thiếu cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội,.. của con người Tây Nguyên.

Đến với lễ hội Cồng chiêng ngoài thưởng thức các nghệ nhân trình diễn những vũ điệu quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần kết hợp với tiếng Cồng chiêng mà còn được tham gia các hoạt động văn hóa khác như phục dựng nghi lễ, lễ hội truyền thống của các đồng bào dân tộc, sinh hoạt văn nghệ dân gian, ẩm thực Tây Nguyên.

Vào từng năm tùy vào đơn vị tổ chức mà thời gian diễn ra lễ hội văn hóa cồng chiêng khác nhau. Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là “tiếng nói” của con người và của thần linh theo quan niệm “vạn vật hữu linh”.

4. Giá trị văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Ở phần lớn các tộc người như: Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho… Thì cồng chiên là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Song có những dân tộc thì cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng như Mạ, M’Nông. Riêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng chiêng.

Mỗi giai điệu mỗi bản nhạc cồng chiêng đều có một ý nghĩa khác nhau cho mỗi sự kiện quan trọng những tiếng cồng chiên kết hợp với những tiếng hò reo tạo nên không khí vui tươi những giai điệu đi theo họ từ lúc sinh ra (lễ thổi tay) gắn liền đời sống hằng ngày qua các lễ hội đến khi họ mất (lễ bỏ mả).

Thanh âm của cồng chiêng là tiếng nói gắn kết giữa con người với thần linh. Mỗi sự kiện khác nhau thì giai điệu, bước múa cũng khác nhau.

5. Cách đánh Cồng Chiêng

Người Tây Nguyên có hai cách đánh cồng chiêng. Một cách đánh bằng dùi, một cách đánh bằng cườm tay. Dùi chiêng có hai loại, một loại dùi mềm và một loại dùi cứng.

Loại dùi mềm thường làm bằng gốc cây dứa dại khô hoặc làm bằng gỗ có bọc vải. Lọa dùi cứng thường làm bằng nhánh gỗ khô hoặc thân cây sắn tươi. Mỗi loại dùi chiêng khi tác động lên mặt chiêng tạo ra âm sắc chiêng khác nhau. Loại dùi mềm cho âm thanh tròn trĩnh, vang ngân, trầm hùng.

Loại dùi cứng cho âm thanh sắc nhọn, nghe có tiếng va chạm của kim khí và sự mãnh liệt của âm thanh. Còn cách đánh bằng cườm tay cho ta một cảm giác âm thanh xa xăm, bí ẩn.

Khi đánh chiêng, tay phải cầm dùi, hoặc cườm tay kích vào mặt chiêng tạo âm thanh, tay trái lúc chặn vào mặt chiêng, lúc rời khỏi mặt chiêng sẽ tạo ra âm chiêng (nốt nhạc chiêng).

Sự kết hợp nhuần nhuyễn hai tay phải và trái của người đánh chiêng sẽ tạo ra một âm chiêng hoàn chỉnh. Nhưng để có thể tham gia diễn tấu được một bài chiêng thì vấn đề còn phức tạp hơn rất nhiều. Mỗi thành viên tham gia vào dàn chiêng giữ vị trí một cao độ và tiết tấu khác nhau.

Do vậy họ phải nắm rất chắc thời khắc gõ chiêng của mình làm sao cho đúng thời khắc tiết tấu, đúng gai điệu, đúng âm sắc. Và điều kì diệu của bản nhạc chiêng chính là sự đồng cảm, sự tập trung, sự hào hứng của những “tâm thức chiêng” khi cùng nhau trình diễn một bản nhạc cồng chiêng.

6. Những bài nhạc Cồng Chiêng

Tiếng chiêng là tiếng nói của con người giao tiếp với thần linh. Để thỏa mãn tiếng nói giao tiếp ấy, các dân tộc ở Tây Nguyên đã sáng tạo ra rất nhiều các bài nhạc chiêng khác nhau. Mỗi bài nhạc chiêng ứng với một lễ thức, một tiết lễ trong lễ thức, mỗi lễ thức ứng với một dàn chiêng.

Lễ đâm trâu người dân tây nguyên sẽ chơi dàn chiêng honh chơi các bài Cheng, Spo, Pru là những bài chiêng hùng tráng như muốn mô tả những cuộc chiến đấu dũng cảm của các vị tù trưởng và dân buôn khi xảy ra chiến tranh bảo vệ lãnh thổ.

Lễ bỏ mả chơi dàn chiên Arap Vào đếm cuổi cùng khi mọi việc đã hoàn tất, con cái, người thân quỳ lại trước Pnang than khóc linh hồn người đã khuất và nói lời từ biệt linh hồn và mong linh hồn đừng quay về quấy rầy con cái. Khi ông thầy lễ dứt bài khấn, các chàng trai đánh bài chiêng Xoang. Bài chiêng có tiết tấu rộn rã cuốn hút mọi người vào vòng Xoang sôi động và vui vẻ.

Ngoài những bài chiêng đánh trong các lễ thức lớn như lễ Đâm trâu, lễ Bỏ mả, các dân tộc Tây Nguyên có có rất nhiều các bài chiêng đánh trong lễ Cúng bên nước, lễ Cúng cơm mới, lễ Dựng nhà, lễ Thổi tai, lễ Rước kpan, lễ Cúng đất v.v… Người Mnông Gar có các bài chiêng: Booc-ngăn, Rơ-le, Bar-đăn, Đol-rơ-la, Goong-Yowl, Táp-tốp, Tiêng, Par-mây. Người Ê-đê có các bài chiêng: Chiêng gọi buôn làng, Chiêng gọi hồn lúa, Chiêng ngày mùa, Chiêng Chi-ria, Chiêng thác đổ, chiêng Tông-gát. Người Cơ-ho có các bài chiêng: Voa-nắc (chiêng đón khách), Bắc-đơn, Pép-ê-zun (săn nai), Ti-tắp-tắp, Dăn pắc – Dăn Điếp, Chinh boch, Po-trim-po. Người Ba-na Rơngao có các bài chiêng: Kă-kơ-pô, Pơ juăr (đuổi ma)…

         Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là một biểu tượng gắn bó mật thiết trong cuộc sống thường ngày của người dân Tây Nguyên mà nó còn là tiếng nói vủa tâm linh, tâm hồn con người và diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong đời sống lao động và sinh hoạt của họ. Hy vọng những thông tin được cung cấp trên sẽ giúp bạn khám phá được những nét đặc sắc trong văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Tất cả tour TÂY NGUYÊN ĐẠI NGÀN
No data was found